Thứ ba, 25/11/2014
Trang chủ Tìm kiếm Sơ đồ web site Hỏi đáp Hòm thư Diễn đàn
Giới thiệu
Tin tức - Sự kiện
Nghị quyết HĐND tỉnh
Kỷ yếu các kỳ họp
TL kỳ họp bất thường
Tài liệu phục vụ TXCT
Dự án Luật, Pháp lệnh
Thống kê
Đang truy cập: 18
Đã truy cập: 156507
Liên kết website
Trang chủ » Tin tức - Sự kiện » Tin HĐND
In nội dung Gửi cho bạn
 
Tin HĐND
Trang    1 2 3 4 5 > >>
Đại biểu HĐND tỉnh tiếp xúc cử tri tại huyện Nam Đông

Tại buổi tiếp xúc cử tri, Tổ đại biểu đã thông báo với cử tri về Kỳ họp thứ 9, HĐND khóa VI sắp tới sẽ xem xét tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, tình hình thực hiện dự toán ngân sách nhà nước; chương trình trọng điểm năm 2014; bàn và quyết định các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp năm 2015; xem xét các báo cáo của Thường trực HĐND, các Ban HĐND và UBND tỉnh; công tác xét xử và kiểm sát; nghe thông báo về tình hình khối đại đoàn kết toàn dân và hoạt động tham gia xây dựng chính quyền của Mặt trận Tổ quốc tỉnh năm 2014 cùng một số nội dung quan trọng khác.

Cử tri nhất trí cao với những nội dung kỳ họp. Đồng thời, kiến nghị cần giải quyết kịp thời những vướng mắc về chế độ đối với cựu thanh niên xung phong; phân bổ, thu hồi, quy hoạch đất sản xuất hợp lý; Có phương án khắc phục các công trình nước tự chảy để người dân sinh hoạt và sản xuất chăn nuôi. Dự án thủy điện Thượng Lộ đã được thi công nhưng việc đền bù chưa thỏa đáng, đồng thời cần có nguồn vốn làm đường vào các khu sản xuất. Bên cạnh đó, cử tri cũng kiến nghị bố trí việc làm cho con em đồng bào dân tộc thiểu số sau khi tốt nghiệp các trường cao đẳng, đại học.

Sau khi nghe ý kiến của cử tri, lãnh đạo huyện Nam Đông đã trả lời các kiến nghị của cử tri theo thẩm quyền. Những vấn đề còn lại Tổ đại biểu HĐND tỉnh sẽ tổng hợp để đề xuất tại kỳ họp 9 HĐND tỉnh khóa VI.

 

www.thuathienhue.gov.vn


Họp liên tịch chuẩn bị kỳ họp thứ 9, HĐND tỉnh khóa VI

Tại kỳ họp này, HĐND tỉnh sẽ trực tiếp xem xét tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, tình hình thực hiện dự toán ngân sách nhà nước và chương trình trọng điểm năm 2014, bàn và quyết định các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp năm 2015; xem xét các báo cáo của Thường trực HĐND, các Ban HĐND và UBND tỉnh; công tác xét xử và kiểm sát của Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh; nghe Ban Thường trực UBMTTQVN tỉnh thông báo về tình hình khối đại đoàn kết toàn dân và hoạt động tham gia xây dựng chính quyền của Mặt trận Tổ quốc tỉnh năm 2014…

HĐND tỉnh cũng xem xét thông qua các tờ trình và dự thảo nghị quyết về quyết toán ngân sách địa phương năm 2013; giá các loại đất trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2015-2019; thành lập, sáp nhập một số thôn, bản, tổ dân phố; công nhận đô thị loại V đối với một số đô thị; thành lập Quỹ đầu tư phát triển và bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trên cơ sở soát xét các nội dung, các đại biểu dự họp đã thảo luận một số nội dung quan trọng dự kiến trình tại kỳ họp.

Kết luận tại cuộc họp, Chủ tịch HĐND tỉnh Lê Trường Lưu đánh giá cao công tác chuẩn bị kỳ họp của các đơn vị liên quan. Thường trực HĐND tỉnh đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo, phân công cho các cơ quan liên quan khẩn trương chuẩn các báo cáo, đề án và dự thảo các nghị quyết trình HĐND. Các Ban HĐND tỉnh chủ động xây dựng kế hoạch thẩm tra để tiến hành thẩm tra các báo cáo, tờ trình, đề án và dự thảo nghị quyết đã được phân công. Các tổ đại biểu HĐND tỉnh xây dựng chương trình, thời gian và địa điểm tiếp xúc cử tri trước và sau kỳ họp đúng thời gian luật định. Đề nghị Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, Tòa án nhân dân tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh chuẩn bị báo cáo trình tại kỳ họp HĐND tỉnh sắp đến.

Dự kiến kỳ họp được tổ chức trong 03 ngày, trong khoảng thời gian từ ngày 09 đến ngày 12/12/2014.

 

www.qhhdthuathienhue.gov.vn


HĐND tỉnh tổ chức kỳ họp bất thường lần thứ nhất

Tại kỳ họp quan trọng này, HĐND tỉnh đã thảo luận và thông qua các Nghị quyết về quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí tham quan di tích lịch sử văn hóa Huế thuộc quần thể di tích Cố đô Huế đến năm 2020; điều chỉnh quy hoạch phát triển công nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030. Đặc biệt, kiện toàn nhân sự HĐND và UBND tỉnh, nhiệm kỳ 2011 - 2016.

Điều chỉnh quy hoạch phát triển công nghiệp tỉnh hướng phát triển kinh tế xanh

Theo Tờ trình của UBND tỉnh, điều chỉnh quy hoạch phát triển công nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 thực hiện theo quan điểm phát triển công nghiệp bền vững theo hướng phát triển kinh tế xanh dựa trên cơ sở khai thác tiềm năng, thế mạnh về vị trí địa lý, nguồn nguyên liệu tại chỗ, nguồn nhân lực chất lượng cao và liên kết các địa phương trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung; tập trung phát triển các ngành công nghiệp có thế mạnh, lợi thế cạnh tranh.

Mục tiêu điều chỉnh tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh 2010) thời kỳ 2011-2020 đạt 12-13%, trong đó giai đoạn đến năm 2020 tăng trưởng 14,0 - 14,5%, giai đoạn năm 2021 - 2030  tăng trưởng 14,5 - 15,0%; tốc độ tăng trưởng giá trị tăng thêm công nghiệp (VA) giai đoạn đến năm 2020 là 12,1%; giai đoạn năm 2021 - 2030 là 12,7%.

Lựa chọn các ngành công nghiệp chủ lực ưu tiên phát triển đến giai đoạn đến năm 2020: ngành công nghiệp chế biến nông lâm thủy hải sản, thực phẩm và đồ uống; ngành công nghiệp dệt may và công nghiệp hỗ trợ dệt may; ngành công nghiệp điện, điện tử, công nghệ thông tin; ngành khai thác và chế biến khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng; ngành tiểu thủ công nghiệp phục vụ du lịch và tiêu dùng. Giai đoạn năm 2021 đến 2030: Ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp có công nghệ sạch, công nghệ cao và thân thiện môi trường.

Các sản phẩm chủ yếu cần ưu tiên phát triển giai đoạn đến năm 2020 như phát triển sản phẩm thực phẩm, đồ uống; phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ, phụ trợ cho ngành dệt may; phát triển các sản phẩm của ngành công nghiệp điện, điện tử, tin học và công nghệ cao; các sản phẩm của công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản; phát triển sản xuất các sản phẩm dược phẩm, hóa mỹ phẩm và sản xuất tá dược, thiết bị ngành y tế; phát triển sản phẩm thủ công mỹ nghệ, quà tặng, hàng lưu niệm phục vụ du lịch.

Giai đoạn năm 2021 đến 2030 sẽ ưu tiên phát triển sản phẩm thực phẩm, đồ uống; phát triển các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ của vùng, công nghiệp hỗ trợ dệt may, sản phẩm may thời trang, xây dựng trung tâm thiết kế thời trang; phát triển các sản phẩm công nghệ cao, điện, điện tử, tin học; đầu tư sản xuất các sản phẩm dược phẩm cao cấp, hóa mỹ phẩm và sản xuất tá dược, thiết bị y tế; sản phẩm thủ công mỹ nghệ chất lượng cao, sản phẩm mỹ thuật và trang trí nội thất; phát triển các sản phẩm ứng dụng công nghệ sinh học; ngành năng lượng mới và năng lượng tái tạo.

Định hướng phát triển các khu kinh tế, cần đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu cho khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô, khu kinh tế cửa khẩu A Đớt để kêu gọi, xúc tiến đầu tư.

Hình thành các khu công nghiệp chức năng, ưu tiên thu hút đầu tư các ngành nghề và sản phẩm chủ yếu vào các KCN theo đúng chức năng chính của 6 KCN (KCN Phú Bài, KCN Tứ Hạ, KCN Phong Điền, KCN La Sơn, KCN Quảng Vinh, KCN Phú Đa).

Dự ước tổng nhu cầu vốn đầu tư giai đoạn (2014-2020): 27.996 tỷ đồng. Dự kiến phân bổ vốn ngân sách nhà nước: 560 tỷ (chiểm 2%) chủ yếu đầu tư hạ tầng kỹ thuật đến chân hàng rào KCN, cụm công nghiệp; vốn doanh nghiệp và vốn vay tín dụng (23%): 6.439 tỷ đồng; vốn liên doanh, liên kết và vốn đầu tư nước ngoài (75%): 20.997 tỷ đồng.

 

Đại biểu HĐND tỉnh biểu quyết thông qua các nghị quyết tại kỳ họp

 

Điều chỉnh mức thu phí tham quan di tích lịch sử văn hóa Huế

Theo đề xuất của UBND, với giá trị, tầm vóc và quy mô của quần thể di tích Cố đô Huế ngày càng được bảo tồn, trùng tu hoàn thiện, thì việc điều chỉnh tăng giá vé tham quan tại các khu di sản văn hóa Huế là rất cần thiết (đặc biệt giá vé tham quan khách nước ngoài được áp dụng hơn 18 năm nay kể từ năm 1993 đến nay, mà chưa một lần được điều chỉnh) nhằm hướng đến mục tiêu phát triển bền vững, và chủ động hơn trong công cuộc bảo tồn di sản văn hóa Huế.

Hiện tại giá vé tham quan các khu di sản văn hóa, danh lam thắng cảnh tại một số điểm trong nước như: khu di tích Phố Cổ Hội An, khu di tích Thánh địa Mỹ Sơn (Quảng Nam); khu du lịch Tràng An (Ninh Bình) và một số di tích của các nước trong khu vực như Hoàng cung Thái Lan, Angkor Wat (Campuchia) đều có mức giá cao hơn so với giá vé tham quan hiện đang áp dụng tại các khu di tích lịch sử văn hóa Huế. Trong lúc đó, các khu di sản như Hoàng Cung Huế và các khu di tích lăng tẩm vua Nguyễn: lăng Minh Mạng, lăng Tự Đức, lăng Khải Định, lăng Thiệu Trị, lăng Đồng Khánh… là các di tích cấp quốc gia đặc biệt, có quy mô, tầm vóc quốc tế và biểu hiện cao nhất của nhiều giá trị văn hóa, nghệ thuật trong hệ thống quần thể di tích Cố đô Huế, nhưng giá vé tham quan hiện nay đang áp dụng cho khách quốc tế chỉ từ: 40.000đ - 105.000đ/người/điểm/lượt; khách Việt Nam là từ 30.000đ - 75.000đồng/người/điểm/lượt, thấp hơn khá nhiều so với các khu di tích khác trong nước và các nước trong khu vực. 

Trên cơ sở đó, HĐND tỉnh đã thảo luận và biểu quyết thông qua mức thu tối đa phí tham quan di tích lịch sử văn hóa Huế thuộc quần thể di tích Cố đô Huế giai đoạn từ năm 2015-2020 (áp dụng thống nhất cho cả khách nước ngoài và khách Việt Nam): Đối với Hoàng Cung Huế (Đại Nội - Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế) người lớn là 210 ngàn đồng, trẻ em là 60 ngàn đồng; các khu di tích: lăng Minh Mạng, lăng Tự Đức, lăng Khải Định người lớn là 150 ngàn đồng trẻ em là 40 ngàn đồng; các khu di tích: lăng Gia Long, lăng Thiệu Trị, lăng Đồng Khánh, điện Hòn Chén, cung An Định, đàn Nam Giao, Kỳ đài Huế người lớn 70 ngàn đồng, trẻ em 20 ngàn đồng. Trên cơ sở mức thu tối đa nêu trên, giao UBND tỉnh quy định mức thu phí cụ thể. Thời điểm áp dụng: 01/4/2015.

Kiện toàn nhân sự HĐND tỉnh và UBND tỉnh

Tại kỳ họp bất thường HĐND tỉnh khóa VI đã tiến hành kiện toàn nhân sự HĐND tỉnh và UBND tỉnh, nhiệm kỳ 2011-2016.

Theo đó, HĐND tỉnh bầu ông Đinh Khắc Đính - Vụ trưởng Vụ Tổ chức Cán bộ, Ban Dân vận Trung ương giữ chức danh Phó Chủ tịch UBND tỉnh nhiệm kỳ 2011-2016 với số phiếu 49/52 đại biểu HĐND tỉnh, đạt 94% (đạt 100% đại biểu có mặt).

HĐND tỉnh cũng đã miễn nhiệm chức danh Chủ tịch HĐND tỉnh đối với ông Nguyễn Ngọc Thiện và miễn nhiệm chức danh Phó Chủ tịch UBND tỉnh đối với ông Lê Trường Lưu. Đồng thời bầu ông Lê Trường Lưu, Phó Bí thư Tỉnh ủy giữ chức danh Chủ tịch HĐND tỉnh nhiệm kỳ 2011-2016 với số phiếu 49/52 đại biểu HĐND tỉnh, đạt 94% (đạt 100% đại biểu có mặt).

HĐND tỉnh đã miễn nhiệm chức danh Trưởng ban Ban Văn hóa Xã hội HĐND tỉnh đối với ông Phan Công Tuyên nghỉ hưu theo chế độ và bầu bà Đoàn Thị Thanh Huyền - Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy giữ chức danh Trưởng ban Ban Văn hóa - Xã hội HĐND tỉnh; đồng thời bầu bổ sung thêm 2 thành viên của Ban Văn hóa - Xã hội đối với ông Lê Phùng - Chỉ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh và ông Trần Quang Vinh - Phó Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy.

 

Lưu Đức Hoàn


Hiệu quả từ Quy hoạch 3 loại rừng

Qua 3 năm triển khai quy hoạch cho thấy, công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực lâm nghiệp có nhiều chuyển biến tích cực, nhất là trong việc rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng, xác định ranh giới các loại rừng, cấp GCNQSDĐ cho các tổ chức cá nhân, việc quản lý sử dụng đất rừng, công tác phòng cháy chữa cháy rừng…

Với nhiệm vụ bảo vệ toàn bộ diện tích rừng hiện có, công tác QLBVR được các ngành, các cấp và các đơn vị cơ sở quan tâm. Các Công ty, các Ban quản lý rừng đã thực hiện tốt quy chế phối hợp quản lý bảo vệ rừng giữa các đơn vị chủ rừng với cơ quan kiểm lâm, các ngành chức năng của huyện và các cấp chính quyền xã, thôn, bản, cùng với xã hội hóa khá tốt công tác bảo vệ rừng, nhờ vậy nhiều diện tích rừng đã có chủ thực sự, đời sống của các hộ tham gia nhận khoán đã được cải thiện, tình trạng phá rừng làm nương rẫy giảm đi rõ rệt, kịp thời ngăn chặn những vụ cháy rừng và khai thác lâm sản trái phép. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh không còn các điểm nóng về khai thác, vận chuyển, mua bán lâm sản trái phép. Các chủ xâu đầu nậu ngày càng giảm dần; nhiều đối tượng hành nghề khai thác, vận chuyển trái phép lâm sản đã chuyển đổi nghề. Kết quả đó là nhờ sự phối hợp có hiệu quả giữa các đơn vị chủ rừng với các cấp chính quyền địa phương; đã xây dựng được quy chế phối hợp công tác giữa cơ quan Kiểm lâm với cấp ủy, chính quyền địa phương, giữa Kiểm lâm địa bàn với Công an xã, lực lượng dân quân tự vệ trong hoạt động QLBVR. Đặc biệt lực lượng Kiểm lâm đã phối hợp chặt chẽ với các lực lượng chức năng, chính quyền địa phương và các đơn vị chủ rừng liên tục mở nhiều đợt truy quét tại rừng, xóa bỏ nhiều tụ điểm có nguy cơ bùng phát thành điểm nóng về phá rừng.

Công tác trồng rừng mới và chăm sóc rừng: Hàng năm diện tích trồng rừng trên toàn tỉnh khoảng 4.000 ha từ nhiều nguồn vốn của các chương trình dự án như dự án 661, dự án WB3 và vốn vay tín dụng của các hộ gia đình, tổ chức, doanh nghiệp… Nhìn chung, chỉ tiêu trồng rừng bảo đảm kế hoạch, chất lượng rừng trồng ngày càng được nâng lên, cơ cấu cây trồng ngày một đa dạng hơn, vừa có tác dụng phòng hộ, vừa giúp tăng thu nhập cho hộ dân, tỷ lệ sống đạt cao trên 90%. Công tác chăm sóc rừng được tiến hành 2lần/năm, nhờ vậy hầu hết rừng sau 3 năm chăm sóc sinh trưởng phát triển tốt.

Công tác giao đất rừng, quản lý và sử dụng đất rừng trong thời gian qua đã được các ngành, các địa phương quan tâm. Diện tích đất trống, đất rừng giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả. Lợi nhuận thu được từ rừng trồng trở thành động lực thúc đẩy nhân dân tích cực tham gia trồng rừng, không còn hiện tượng đất trống, đồi trọc bỏ hoang hóa. Tính đến cuối năm 2013, tổng diện tích giao mới và hoàn thiện hồ sơ là: 25.561,0 ha, bao gồm: 70 cộng đồng với diện tích 14.586,0 ha; 134 nhóm hộ với diện tích 7.188,4 ha; 162 hộ gia đình với diện tích 2.429,6 ha và 02 Đồn Biên phòng với diện tích 1.357,0 ha. Nhiều hộ được giao với quy mô lớn đã thành lập trang trại có hiệu quả như ở Phú Lộc, Hương Thuỷ, qua đó giải quyết việc làm cho một bộ phận dân cư ở ven rừng; số người sống dựa vào khai thác rừng tự nhiên giảm nhiều, đặc biệt đã hạn chế và đi đến chấm dứt tình trạng phá rừng làm nương rẫy.

Công tác khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng: Diện tích khoanh nuôi, chủ yếu là khoanh nuôi chuyển tiếp từ các năm trước, đối tượng rừng đưa vào khoanh nuôi tái sinh tự nhiên là loại nghèo kiệt, rừng IC, IB ở nơi cao, xa, dốc khó có điều kiện tác nghiệp trồng rừng, với nhiệm vụ chủ yếu là đầu tư bảo vệ rừng nghiêm ngặt.          

Bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn 3 nhiệm vụ mà nghị quyết HĐND đề ra chưa được triển khai thực hiện giai đoạn 2010-2015, đó là công tác cải tạo rừng, làm giàu rừng và nuôi dưỡng rừng.

Về công tác nuôi dưỡng rừng (420 ha) và làm giàu rừng (250 ha): Chỉ tiêu này tập trung ở 2 đơn vị khai thác là Công ty Lâm nghiệp Nam Hòa và BQL rừng phòng hộ Nam Đông. Theo qui định, trong khai thác có trích lại 1 triệu đồng/m3/năm, tuy nhiên do các chủ rừng chưa thật sự quan tâm trong việc trích lập, làm các thủ tục trích vốn, phê duyệt nguồn vốn để triển khai nên nhiệm vụ này không thực hiện được.

Về công tác cải tạo rừng tự nhiên (1500 ha): Theo quy định của Thông tư hướng dẫn về chuyển đổi rừng nghèo kiệt là rừng sản xuất sang trồng cao su của Bộ Nông nghiệp và PTNT thì các tổ chức, cá nhân muốn chuyển đổi rừng, phải xây dựng phương án và được cấp có thẩm quyền cho phép. Tuy nhiên, do công tác lãnh đạo, chỉ đạo của ngành chưa đến nơi đến chốn, nên công tác này vẫn chưa được triển khai thực hiện.

Kết quả giám sát chuyên đề của Ban Kinh tế và Ngân sách trong năm 2014 cũng chỉ ra một số tồn tại, hạn chế chưa được tháo gỡ trong quá trình triển khai thực hiện quy hoạch, đó là:

- Công tác quy hoạch thiếu đồng bộ, có sự chồng chéo quy hoạch giữa ngành Nông nghiệp và PTNT, Tài nguyên - Môi trường và các ngành khác; việc quản lý đất lâm nghiệp của một số đơn vị lâm nghiệp nhà nước còn lỏng lẻo, tình trạng lấn chiếm đất rừng trái phép vẫn còn xảy ra khá phổ biến

- Công tác giao đất rừng và quản lý, sử dụng đất rừng trên địa bàn tỉnh cũng còn một số hạn chế như: việc giải quyết những vấn đề nảy sinh sau khi điều chỉnh lại quy hoạch 3 loại rừng còn chậm; hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp chưa cao; chưa đánh giá được chất lượng, trữ lượng rừng khi giao đất, giao rừng cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, hộ gia đình. Đặc biệt, trong việc giao rừng tự nhiên cho cộng đồng quản lý, đa số là rừng nghèo với chức năng phòng hộ khó áp dụng các biện pháp cải tạo rừng; một số nơi rừng xa dân cư khó khăn cho việc tuần tra, kiểm soát.

- Việc thực thi chính sách giao đất lâm nghiệp ở tại các địa phương chưa được thực hiện một cách công bằng cả về diện tích và chất lượng đất. Hiện có nhiều hộ gia đình, cá nhân đang sinh sống ven rừng, cuộc sống phụ thuộc vào rừng, có nhu cầu được giao đất để sản xuất nhưng chưa được giao đất rừng, hoặc không còn đất  rừng để giao, trong khi đó, hiện tượng tích tụ đất lâm nghiệp đang xảy ra đối với những hộ giàu có và có trình độ văn hoá; người nghèo phải đi làm thuê, cuộc sống ngày càng khó khăn hơn cho người nghèo.

- Dịch vụ khuyến lâm còn nhiều hạn chế, mới chỉ tập trung vào khâu sản xuất, cung cấp giống, quy trình lâm sinh, chăm sóc rừng mà chưa có các tư vấn hỗ trợ về quy hoạch sử dụng đất quy mô hộ gia đình, trang trại; việc quản lý tổng hợp tài nguyên rừng nói chung cũng như phát triển doanh nghiệp lâm nghiệp vừa và nhỏ, xây dựng các khu rừng được cấp chứng chỉ chưa được nhiều.

- Công tác quản lý nhà nước về lâm nghiệp của UBND cấp huyện còn chồng chéo; việc xây dựng đề án thu phí chi trả dịch vụ môi trường rừng còn chậm...

Với những hạn chế tồn tại nêu trên, thiết nghĩ trong thời gian tới, các cơ quan chuyên môn cần tham mưu UBND tỉnh tăng cường công tác chỉ đạo, chấn chỉnh công tác quản lý và bảo vệ rừng tại một số địa phương nhằm thực hiện hoàn thành các mục tiêu mà HĐND tỉnh đã quyết nghị. Trong đó, cần tập trung chỉ đạo điều tra, đánh giá, thống kê hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp để xây dựng cơ sở dữ liệu hoàn chỉnh, làm cơ sở cho công tác quản lý tài nguyên rừng tại địa phương trong những năm tới; nghiên cứu ban hành chính sách hưởng lợi cho cộng đồng được giao quản lý rừng; hàng năm, cần bố trí một khoản ngân sách để hỗ trợ ban đầu cho các cộng đồng, nhóm hộ tổ chức tuần tra bảo vệ rừng nhằm xây dựng Quỹ BVR trong khi chờ các chính sách hưởng lợi có tính khả thi hơn. Hàng năm cần ưu tiên bổ sung kinh phí phục vụ công tác QLBVR. Có biện pháp giải quyết các diện tích rừng trồng theo các dự án JBIC, 661, 327 hiện đã quá chu kỳ sản xuất, cho phép khai thác cây keo để tạo môi trường sinh trưởng, phát triển của cây bản địa trồng dưới tán keo.

 

Lưu Đức Hoàn


Họp liên tịch thông qua chương trình, nội dung kỳ họp bất thường HĐND tỉnh khóa VI

Tại kỳ họp này, HĐND tỉnh sẽ xem xét và thông qua 2 Nghị quyết chuyên đề gồm: Nghị quyết về quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí tham quan di tích lịch sử văn hóa Huế thuộc quần thể di tích cố đô Huế; Nghị quyết về điều chỉnh quy hoạch phát triển công nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; đồng thời HĐND tỉnh cũng tiến hành kiện toàn nhân sự HĐND tỉnh và UBND tỉnh nhiệm kỳ 2011-2016.

Tại buổi họp, Chủ tịch HĐND tỉnh Nguyễn Ngọc Thiện đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo các cơ quan liên quan khẩn trương chuẩn bị các báo cáo, đề án và dự thảo các Nghị quyết trình HĐND tỉnh; đồng thời tổ chức lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của Nghị quyết theo quy định của pháp luật. Các Ban của HĐND tỉnh, theo nhiệm vụ của mình chủ trì xây dựng kế hoạch thẩm tra và tiến hành thẩm tra các tờ trình, đề án và dự thảo Nghị quyết theo đúng thời gian, đảm bảo chất lượng trước khi báo cáo HĐND tỉnh tại kỳ họp.

Dự kiến kỳ họp bất thường sẽ diễn ra trong 01 ngày vào đầu tháng 10/2014.

 

www.qhhdthuathienhue.gov.vn

.

Dự án Luật Tổ chức chính quyền địa phương: Trao cho HĐND quyền lực thực sự, đúng với vị thế hiến định

Chương IX, Hiến pháp năm 2013 quy định Chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cấp chính quyền địa phương gồm có HĐND và UBND được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật định. Đồng thời, Hiến pháp tiếp tục khẳng định HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. UBND do HĐND cùng cấp bầu, là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước HĐND và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên. Với mục tiêu cụ thể hóa các nội dung quy định tại Chương IX của Hiến pháp và kế thừa Luật Tổ chức HĐND và UBND, dự án Luật Tổ chức chính quyền địa phương đang được hoàn thiện để trình QH cho ý kiến tại Kỳ họp thứ Tám tới. Trong đó, việc xây dựng mô hình chính quyền địa phương phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của chính quyền địa phương, mối quan hệ giữa HĐND và UBND các cấp là một trong những nội dung quan trọng nhất của dự thảo Luật.

Tại Hội thảo Mô hình tổ chức chính quyền địa phương vừa được tổ chức tại thành phố Huế, các chuyên gia pháp lý cho rằng, Điều 111 của Hiến pháp năm 2013 là một bước tiến lớn trong việc đa dạng hóa mô hình chính quyền địa phương nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới, nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động của chính quyền địa phương phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Thực tế, trong nhiều năm qua, mô hình tổ chức chính quyền địa phương được tổ chức giống nhau ở tất cả các địa phương, không có sự phân biệt nào theo đặc điểm của từng khu vực, từng địa phương đã làm phát sinh nhiều vướng mắc, bất hợp lý. Ví dụ, có một số huyện, xã (chủ yếu là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa) cán bộ không có hoặc có rất ít việc để làm; có trường hợp huyện đảo, cả ngày không có ai đến liên hệ, làm việc. Trong khi, nhiều quận, huyện (thậm chí phường) của Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, có diện tích và dân số rất lớn thì khối lượng công việc rất đồ sộ, cán bộ công chức hầu như luôn trong tình trạng quá tải. Như vậy, xét về khía cạnh nhu cầu quản lý, cấp quận, huyện, xã ở mỗi địa phương, cũng rất khác nhau. Đặc biệt, khoảng đầu những năm 2000 đến nay, theo Phó giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Cửu Việt, Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, đã xảy ra hiện tượng xé rào của rất nhiều tỉnh, thành phố trong việc ban hành các quy định về khuyến khích đầu tư, thực hiện chính sách thuế, về xử lý vi phạm hành chính... Thực tế này đã cho thấy, chiếc áo tổ chức chính quyền địa phương được may chung cho các địa phương đã không còn đáp ứng được nhu cầu phát triển của từng địa phương. Và hệ quả của chiếc áo không vừa này là, nhiều địa phương đã đề nghị Trung ương có cơ chế, chính sách đặc thù cho mình. Đầu tiên là Thành phố Hồ Chí Minh trình Chính phủ xin quy chế riêng, dẫn đến việc ban hành Nghị định số 93/2001 về phân cấp một số nhiệm vụ, quyền hạn cho địa phương này. Mặc dù, với Nghị định này, việc phân cấp cho Thành phố Hồ Chí Minh cũng chưa quá khác biệt so với các tỉnh, thành phố khác nhưng đã cho thấy một nhu cầu có thật của địa phương: một đô thị lớn, năng động như Thành phố Hồ Chí Minh nếu không được phân cấp mạnh hơn thì không thể đáp ứng được yêu cầu phát triển và đòi hỏi của thực tiễn tại địa phương. Sau đó, khoảng cuối những năm 2000, Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục trình Trung ương xin tổ chức thí điểm mô hình chính quyền đô thị; Thành phố Đà Nẵng cũng đề ra chủ trương xin tổ chức thí điểm dân bầu trực tiếp Chủ tịch UBND thành phố, Chủ tịch UBND thành phố bổ nhiệm Chủ tịch UBND quận, huyện... Phó giáo sư Nguyễn Cửu Việt cũng cho rằng, trên thực tế, không ít địa phương cũng đang bị vướng trong điều hành, quản lý địa phương do mặc chung chiếc áo về mô hình tổ chức chính quyền địa phương như các tỉnh, thành phố khác.

Rõ ràng, việc đa dạng hóa mô hình tổ chức chính quyền địa phương là nhu cầu có thật và cần thiết để nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương phù hợp với đặc điểm của vùng nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt... Điều 111 của Hiến pháp năm 2013 đã mở đường cho việc đa dạng hóa đó.

Tuy nhiên, với dự thảo Luật Tổ chức chính quyền địa phương do Bộ Nội vụ chủ trì soạn thảo, quy định mang tính mở đường của Hiến pháp đã được hiểu theo một hướng rất khác so với tinh thần của Hiến pháp. Theo đó, cơ quan chủ trì soạn thảo đã đề xuất hai phương án tổ chức chính quyền địa phương, trong đó có một phương án sẽ bỏ HĐND ở một số cấp chính quyền và chỉ tổ chức cơ quan hành chính để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước ở địa bàn đó. Không tán thành với quan điểm này, Phó trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Nam Định Nguyễn Anh Sơn khẳng định, dự án Luật Tổ chức chính quyền địa phương không thể đưa ra một mô hình tổ chức chính quyền địa phương nào khác với nguyên tắc đã được khẳng định trong Hiến pháp: cấp chính quyền địa phương gồm có HĐND và UBND; HĐND là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho nhân dân địa phương; UBND là cơ quan chấp hành của HĐND và do HĐND cùng cấp bầu. Đây là nguyên tắc bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân địa phương. Thông qua thiết chế HĐND - cơ quan do dân trực tiếp bầu ra, người dân thực hiện quyền làm chủ của mình trong xây dựng chính quyền và giám sát việc thực thi quyền lực Nhà nước của chính quyền địa phương, bảo đảm chính quyền này hoạt động vì dân, phục vụ dân.

Vì thế, câu chuyện cần bàn luận trong dự luật Tổ chức chính quyền địa phương không phải là cấp chính quyền nào phải có HĐND, cấp chính quyền nào không cần tổ chức HĐND mà là chính quyền nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt... có thẩm quyền khác nhau như thế nào, phân cấp, phân quyền cho các chính quyền địa phương ra sao cho phù hợp với đặc điểm, yêu cầu của từng khu vực.

Và điều quan trọng hơn nữa là, phải trao cho HĐND quyền lực thực sự, theo đúng vai trò đã được Hiến định của cơ quan này là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương. Theo đó, nhiều chuyên gia lập pháp đề nghị, việc xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND, mối quan hệ giữa HĐND và UBND trong dự thảo Luật Tổ chức chính quyền địa phương phải cụ thể và thực chất hơn. Phó trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Nam Định Nguyễn Anh Sơn cho rằng, các quy định hiện hành của Luật Tổ chức HĐND và UBND thực ra cũng đã quy định tương đối cụ thể các nội dung này, theo đó, HĐND được làm những gì, giữ vai trò như thế nào trong bộ máy Nhà nước. Tuy nhiên, trên thực tế thì rất khác, có rất nhiều vấn đề HĐND không có vai trò quyết định thực sự. Chẳng hạn quyết định về ngân sách địa phương hay trong thực hiện chức năng giám sát. Đồng tình với quan điểm này, nhiều nhà lập pháp cũng đề nghị, cần quy định cụ thể, thực chất các điều kiện bảo đảm để HĐND hoàn thành chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, từ tổ chức bộ máy đến nhân sự, tăng cường hợp lý số lượng đại biểu hoạt động chuyên trách và củng cố bộ máy tham mưu, phục vụ HĐND để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của HĐND...

 

Nguồn: daibieunhandan.vn

.

Những vấn đề rút ra từ cuộc giám sát về biên chế sự nghiệp giáo dục tại các huyện, thị xã và thành phố Huế

Theo số liệu báo cáo từ UBND các huyện, thị xã và thành phố Huế, toàn tỉnh hiện có 162.923 học sinh ở bậc tiểu học và THCS: trung bình có 27,5 học sinh/lớp ở bậc tiểu học và 32,3 học sinh/lớp ở bậc THCS. Số học sinh trung bình trên lớp đối với bậc tiểu học và THCS là tương đối thấp so với Điều lệ trường học do Bộ giáo dục và Đào tạo quy định. Nguyên nhân chủ yếu là do thời gian qua tỷ lệ gia tăng dân số giảm, số điểm trường lẻ tại bậc tiểu học còn nhiều. Mặt khác, trước tình hình thừa giáo viên (chủ yếu là bậc THCS) một số địa phương đã chủ trương giảm số học sinh/lớp để tăng số lớp nhằm bảo đảm số tiết dạy cho giáo viên. Trong hai năm 2012 và 2013, UBND cấp huyện đã tuyển dụng 843 giáo viên và nhân viên tại các trường tiểu học và THCS trên địa bàn tỉnh.

Qua giám sát, Thường trực HĐND tỉnh đã đánh giá việc tuyển dụng biên chế sự nghiệp giáo dục đã được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý biên chế sự nghiệp; số lượng giáo viên và nhân viên trường học được tuyển dụng, bố trí công tác cơ bản đáp ứng theo quy định và nhu cầu thực tiễn trong việc bố trí giảng dạy, bảo đảm đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu bộ môn trên cơ sở hiện trạng số lớp của từng trường; chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên và nhân viên ngày càng được nâng cao, đáp ứng tốt với yêu cầu nhiệm vụ được giao.

Bên cạnh đó, Thường trực HĐND tỉnh cũng đã chỉ ra những bất cập, hạn chế như việc tăng số lượng biên chế giáo viên không đúng quy định; thừa - thiếu giáo viên cục bộ đối với một số bộ môn... của các trường tiểu học và THCS trên địa bàn tỉnh.

Qua giám sát, Thường trực HĐND tỉnh nhận thấy, mặc dù đã có nhiều thông tư, nghị định hướng dẫn nhưng UBND tỉnh và UBND các huyện, thị xã, thành phố Huế chưa có văn bản hướng dẫn, chậm ban hành văn bản sửa đổi, bổ sung quy chế tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức, dẫn đến tại mỗi địa phương quy định về đối tượng ưu tiên trong tuyển dụng khác nhau và chưa phù hợp với quy định của pháp luật; quy định tăng số lượng biên chế giáo viên không đúng quy định; tình trạng thừa - thiếu giáo viên cục bộ đối với một số bộ môn của các trường tiểu học và THCS; việc thu tiền đối với người nộp hồ sơ dự xét tuyển viên chức không đúng với quy định của pháp luật.

Khi tuyển dụng viên chức, UBND các huyện, thị xã đều căn cứ vào số lượng biên chế được phân bổ và số viên chức hiện có để cân đối thừa, thiếu, lên kế hoạch tuyển dụng. Tuy nhiên, tại thành phố Huế đến thời điểm 31/12/2013 số biên chế sự nghiệp giáo dục được tuyển nhiều hơn số lượng biên chế được giao là 62 biên chế. Về phân bổ số giáo viên và nhân viên các trường học, tại địa bàn thành phố Huế chưa thực hiện đúng theo quy định, dẫn đến số biên chế giáo viên phân bổ cho các trường vượt định mức. Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố đã nâng định mức giáo viên ở các lớp học có dạy 2 buổi/ngày thuộc trường THCS trên địa bàn thành phố lên 2,2 giáo viên/lớp, áp dụng từ năm học 2010-2011 đến nay (trong khi theo quy định mỗi lớp chỉ được bố trí không quá 1,9 giáo viên). Việc làm này là không đúng thẩm quyền và làm tăng số lượng biên chế giáo viên tại các trường THCS có dạy 2 buổi/ngày.

Tại UBND thành phố Huế, do không quản lý chặt tình hình nhận học sinh trái tuyến nên một số trường học ở khu vực nội thành có số lượng học sinh trên lớp quá cao so với quy định, gây khó khăn trong công tác dạy học của giáo viên và học sinh, công tác quản lý của nhà trường, áp lực lớn về phòng học và các cơ sở vật chất phục vụ dạy và học. Tại các Trường tiểu học: Quang Trung, Lê Lợi, Vĩnh Ninh trung bình trên 43 học sinh/lớp; trường THCS Trần Cao Vân khối 6 trung bình gần 48 học sinh/lớp; trường THCS Nguyễn Chí Diễu có lớp đến 54 học sinh,… Ngược lại, tại một số trường ngoại thành đã được đầu tư rất khang trang, rộng rãi với đầy đủ cơ sở vật chất, thiết bị và đội ngũ giáo viên lại có số học sinh tuyển vào rất ít; để sử dụng hết số giáo viên đang có, tại các trường này đã giãn lớp ra nên dẫn đến số học sinh/lớp rất thấp so với qui định hiện hành.

Kết luận của Thường trực HĐND tỉnh:

Trong năm học 2014-2015 và những năm tiếp theo, để khắc phục dần tình trạng dư thừa giáo viên do sắp xếp lại số học sinh/lớp, trước mắt, các địa phương dừng việc tuyển dụng biên chế giáo viên cho đến khi cân đối được giữa số giáo viên về hưu và số biên chế thừa, thực hiện tốt việc điều tiết giữa các trường trên địa bàn (chỉ tuyển dụng mới trong trường hợp sau khi cân đối, điều tiết chung trên địa bàn mà vẫn còn thiếu). Riêng thành phố Huế, khẩn trương khắc phục tình trạng số học sinh/lớp vượt quá quy định của Điều lệ trường học trong đợt tuyển sinh năm học 2014-2015 và những năm tiếp theo. Trên cơ sở thống kê số học sinh tại các phường, cơ sở vật chất của các trường học, tiến hành phân lại tuyến tuyển sinh một cách hợp lý, bảo đảm cân đối số học sinh tại các trường. Kể từ năm học 2015-2016 chấm dứt tình trạng nhận học sinh trái tuyến.

Ngoài ra, Thường trực HĐND tỉnh cũng đã đề nghị UBND tỉnh tiến hành sửa đổi, bổ sung các quy định hiện hành về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức để áp dụng thống nhất trên địa bàn tỉnh. Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo, trước tình hình số học sinh ngày càng giảm, thừa biên chế giáo viên như hiện nay, cần có kế hoạch cụ thể để định hướng cho học sinh trung học phổ thông ở các trường trên địa bàn tỉnh khi thi vào các trường sư phạm trong thời gian tới. Yêu cầu Sở Tài chính tiến hành thanh tra công tác thu, nộp, quản lý và sử dụng kinh phí sự nghiệp giáo dục tại UBND TP Huế; công tác thu, nộp quản lý và sử dụng tiền đóng góp của phụ huynh học sinh đối với những trường hợp học trái tuyến tại các trường học trên địa bàn.

Thường trực HĐND tỉnh kiến nghị với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nội vụ xem xét nâng định mức giáo viên đối với những lớp có tổ chức dạy 2 buổi/ngày tại các trường THCS để bảo đảm số tiết dạy theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo; bố trí một nhân viên chuyên trách làm công tác văn thư, lưu trữ tại các trường tiểu học, vì đây là công việc đòi hỏi cần phải có chuyên môn, nghiệp vụ.

 

Cao Hữu Dũng

.

Hội nghị Thường trực HĐND các tỉnh Bắc Trung bộ

Phát biểu chào mừng Hội nghị, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Thanh Hóa Mai Văn Ninh nhấn mạnh: hoạt động theo dõi, đôn đốc thực hiện các kiến nghị sau giám sát, chất vấn là hoạt động quan trọng của HĐND. Nó thể hiện chức năng và quyền hạn của HĐND ở địa phương; đồng thời thúc đẩy sự phát triển về mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng tại địa phương. Hoạt động chất vấn, giám sát và hoạt động của Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND có sự hỗ trợ mật thiết lẫn nhau. Hoạt động Văn phòng tốt sẽ là cơ sở cho hoạt động chất vấn và giám sát phát huy tối đa hiệu quả. Ngược lại, nếu làm không tốt, nhất là trong việc chuẩn bị nội dung và tham mưu, sẽ dẫn đến tính hình thức, chung chung trong chất vấn và giám sát…

Theo đánh giá tại Hội nghị, việc theo dõi, đôn đốc thực hiện các kiến nghị sau giám sát, chất vấn tại các tỉnh Bắc Trung bộ thời gian qua được chú trọng, thực hiện quyết liệt, hầu hết các kiến nghị sau giám sát và các vấn đề đưa ra chất vấn đã được UBND tỉnh, các sở, ngành, huyện, thị xã, thành phố đã tiếp thu, triển khai thực hiện đạt kết quả tốt, nhiều lĩnh vực đã tạo chuyển biến rõ nét. Tuy nhiên, nhiều kiến nghị sau giám sát của Thường trực, các ban HĐND tỉnh cũng như nội dung chất vấn của đại biểu chưa được các cấp, ngành, các địa phương, đơn vị thực hiện triệt để. Thậm chí, có cơ quan, đơn vị cố tình không chấp hành, lãng quên lời hứa sau giám sát... Công tác tham mưu, phục vụ của Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh cũng luôn được thực hiện tốt, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Đoàn ĐBQH và HĐND. Tuy nhiên, quá trình thực hiện nhiệm vụ còn gặp nhiều khó khăn: Văn phòng là cơ quan tham mưu, giúp việc cho cơ quan dân cử, nhưng có quá nhiều chủ thể phải phục vụ, trong khi mỗi chủ thể có quyền tương đối độc lập, nhiệm vụ, phạm vi hoạt động khác nhau, gây khó khăn trong điều phối, điều hành...

Các đại biểu dự Hội nghị đã trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả theo dõi, đôn đốc giải quyết ý kiến, kiến nghị sau giám sát, chất vấn cũng như hoạt động của Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND trong tham mưu, phục vụ. Thường trực HĐND các địa phương kiến nghị, cần ban hành Luật Giám sát của HĐND, có hình thức giao cho HĐND được áp dụng các biện pháp chế tài xử lý đối với tổ chức, cá nhân không thực hiện kiến nghị sau giám sát; UBTVQH và VPQH cần xác định rõ Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh là cơ quan chuyên môn hành chính nhà nước để khẳng định mối quan hệ thứ bậc hành chính giữa các cơ quan Trung ương, mà trực tiếp là VPQH, Văn phòng Chính phủ với Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh; giữa Văn phòng với các sở, ban, ngành cấp tỉnh theo một chỉnh thể thống nhất như mục tiêu tổng quát của Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 đã đặt ra...

 

www.qhhdthuathienhue.gov.vn

.

Về đầu trang
Trang    1 2 3 4 5 > >>
Thông tin mới
Ngày làm việc thứ 28, kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIII: Bảo đảm quyền thực hiện nghĩa vụ quân sự của công dân

Ngày 21/11, kỳ họp thứ 8, Quốc hội (QH) khóa XIII, sang ngày làm việc thứ 28. Buổi sáng, các đại biểu QH làm việc tại hội trường, biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam; thảo luận dự án Luật Nghĩa vụ quân sự (sửa đổi). Buổi chiều, QH thảo luận dự án Luật Tổ chức Chính phủ (sửa đổi).

Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 11/2014

Bảo toàn vốn nhà nước ở mức cao nhất; không hạn chế mức giảm, số lần giảm giá xăng dầu; quy định mới về mức thu phí đường bộ; miễn thuế nhập khẩu linh kiện y tế;... là những chính sách mới có hiệu lực từ tháng 11/2014.

Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 9/2014

Nghị định về tập đoàn kinh tế nhà nước và tổng công ty nhà nước; đạt giải KHCN được thưởng tới 270 lần lương cơ sở; nhiều ưu đãi đối với HSSV các ngành nghệ thuật truyền thống; doanh nghiệp được giảm hơn 200 giờ khai thuế... là những chính sách mới có hiệu lực thi hành từ tháng 9/2014.

Trang chủ   |   Góp ý   |   Cấu trúc Website   |   Hỗ trợ
© 2006-2012 Designed by Trung tâm Tin học
Giấy phép số: 123/GP-TTĐT ngày 21/8/2012 của Cục Quản lý phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử - Bộ Thông tin và Truyền thông